Đường huyết của người bệnh tiểu đường bao nhiêu là an toàn?
Mục lục
Theo các chuyên gia y tế Nguyễn Tuấn Trịnh, nhà thuốc Long Châu, dù là người mắc bệnh tiểu đường hay chưa, việc tầm soát lượng đường trong máu đều cần thiết.
Nồng độ glucose trong máu, hay còn gọi là chỉ số đường huyết, sẽ thay đổi tùy thuộc vào cơ thể lúc đói, sau khi ăn hoặc trước khi đi ngủ. Tùy vào đối tượng là người khỏe mạnh bình thường hay bệnh nhân tiểu đường mà các chỉ số tiêu chuẩn dành cho hai nhóm này cũng khác nhau.
Ở người không bị tiểu đường, ngay khi thức dậy, chỉ số đường huyết tiêu chuẩn là 4-5,4 mmol/l. Sau khi ăn ít nhất 90 phút, người bình thường có chỉ số dưới 7,8 mmol/l.
Đối với người bệnh tiểu đường, khi đói, chỉ số đường huyết nằm trong khoảng 4-7 mmol/l; còn sau khi ăn ít nhất 90 phút, chỉ số dưới 8,5 mmol/l được xem là trong “vùng an toàn”. Tuy nhiên, tùy thuộc vào nhiều yếu tố của người bệnh như độ tuổi, giới tính, mức độ bệnh…, mục tiêu về chỉ số đường huyết có thể thay đổi.

Ảnh minh họa.
Hạ đường huyết nguy hiểm thế nào?
Khi chỉ số đường huyết đo được dưới 4 mmol/l, cho thấy cơ thể đã bị hạ đường huyết. Lúc này, nồng độ glucose trong máu giảm đáng kể, dưới mức an toàn và không đủ để cơ thể hoạt động.
Đặc biệt, não và hồng cầu phụ thuộc vào glucose để cung cấp năng lượng và không thể thay thế bằng các nguồn năng lượng khác. Do đó, chỉ số đường huyết cần được duy trì trong khoảng tiêu chuẩn để các cơ quan trong cơ thể hoạt động bình thường.
Nếu giảm đến 3 mmol/l, cơ thể bắt đầu cảm thấy đói, tay chân run và có cảm giác hồi hộp. Nếu không có biện pháp giúp đường huyết ổn định trở lại, tình trạng sẽ càng nguy hiểm khi nồng độ đường trong máu tiếp tục giảm.
Khi giảm đến 2 mmol/l, người bệnh bắt đầu nhìn thấy sự vật mờ đi, cảm giác mệt và yếu dần. Nguy hiểm hơn, khi chỉ số xuống dưới 2 mmol/l, bệnh nhân có thể rơi vào trạng thái hôn mê và kèm theo co giật.
Ai cũng nên hiểu biết về biến chứng khi hạ đường huyết để có cách phòng ngừa cũng như xử trí phù hợp. Trường hợp bệnh nhân hạ đường huyết nặng, cần đưa đến cơ sở y tế chuyên khoa để được điều trị kịp thời, tránh để lại di chứng.
Đường huyết tăng cao nguy hiểm thế nào?
Insulin là hormone có khả năng làm giảm nồng độ glucose trong máu. Khi chức năng nội tiết của tuyến tụy hoạt động không hiệu quả, cơ quan này không tiết đủ insulin để giúp cân bằng đường huyết.
Một khả năng khác là trong cơ thể vẫn có insulin nhưng insulin không phát huy tác dụng, được gọi là đề kháng insulin. Tình trạng này cũng khiến cơ thể không kiểm soát được lượng đường trong máu, dẫn đến đường huyết tăng cao.
Nếu chỉ số đường huyết trên 10 mmol/l, nồng độ glucose trong máu đang vượt ngưỡng an toàn. Tình trạng đường huyết cao có thể gây tổn thương nhiều cơ quan khác nhau như thận, thần kinh, tim và não…
Đặc biệt, tuyến tụy lúc này phải tăng cường hoạt động để tiết insulin, dễ dẫn đến quá tải và trở nên hư hại. Ngoài ra, đường huyết tăng cao cũng là một trong những nguyên nhân khiến mạch máu bị xơ cứng hay còn gọi là xơ vữa động mạch.
Một điều đáng lưu ý là chỉ khi đường huyết tăng rất cao, trên 16,5 mmol/l, cơ thể mới bắt đầu có những biểu hiện rõ rệt như mệt mỏi, khát nước và đi tiểu nhiều. Trong khi đó, khi đường huyết tăng từ 10 mmol/l đến dưới 16,5 mmol/l, người bệnh hầu như không có dấu hiệu nhận biết do không gây mệt mỏi hay đau đớn rõ rệt.
Do đó, sẽ rất nguy hiểm nếu không thường xuyên kiểm tra đường huyết mà chỉ nhận thấy sự khác biệt của cơ thể khi đường huyết đã tăng rất cao. Điều này dễ dẫn đến hội chứng nhiễm toan ceton và hội chứng tăng áp lực thẩm thấu. Khi mắc phải các hội chứng này, người bệnh cần được cấp cứu ngay lập tức nếu không có thể dẫn đến hôn mê, co giật và đe dọa tính mạng.
5 việc người bệnh tiểu đường nên làm sau ăn?
Theo Báo lao động, việc duy trì một số thói quen lành mạnh sau bữa ăn có thể giúp cơ thể điều hòa đường huyết hiệu quả hơn, đặc biệt đối với người mắc tiểu đường
Ảnh minh họa.
Đi bộ nhẹ sau bữa ăn
Đi bộ khoảng 10 phút sau khi ăn là một hình thức vận động nhẹ nhàng nhưng mang lại nhiều lợi ích. Hoạt động này giúp cơ thể sử dụng glucose từ bữa ăn thay vì để lượng đường tích tụ trong máu. Vận động sau bữa ăn còn làm chậm tốc độ hấp thụ glucose, từ đó hỗ trợ kiểm soát đường huyết.
Ăn nhẹ thực phẩm phù hợp
Một phần nhỏ trái cây tươi hoặc thạch rau câu không đường sau bữa ăn có thể hỗ trợ tiêu hóa và giúp làm chậm quá trình hấp thụ carbohydrate. Điều này giúp hạn chế tình trạng tăng đường huyết nhanh sau khi ăn.
Ngoài ra, việc ăn một lượng nhỏ đồ ngọt nhẹ còn giúp não bộ nhận tín hiệu rằng bữa ăn đã kết thúc, nhờ đó giảm cảm giác thèm ăn. Những thực phẩm lên men như sữa chua cũng có thể hỗ trợ điều hòa quá trình chuyển hóa glucose, cải thiện tiêu hóa và giảm viêm.
Tránh nằm ngay sau khi ăn
Việc nằm hoặc ngồi bất động ngay sau bữa ăn có thể gây áp lực lên cơ vòng thực quản, làm tăng nguy cơ trào ngược dạ dày. Đồng thời, thói quen này còn khiến mỡ nội tạng và mỡ vùng bụng dễ tích tụ hơn.
Khi lượng mỡ trong cơ thể tăng, tình trạng viêm và rối loạn chuyển hóa cũng dễ xảy ra, từ đó khiến việc kiểm soát đường huyết trở nên khó khăn hơn.
Uống nước sau bữa ăn
Bổ sung nước trong và sau bữa ăn có thể tạo cảm giác no, từ đó giúp hạn chế lượng calo nạp vào. Uống nước lọc còn hỗ trợ thận trong quá trình loại bỏ lượng đường dư thừa trong máu, góp phần ngăn ngừa tình trạng đường huyết tăng đột ngột.
Các chuyên gia khuyến nghị mỗi người nên uống khoảng 2-2,25 lít nước mỗi ngày. Lượng nước đầy đủ không chỉ giúp kiểm soát đường huyết mà còn hỗ trợ nhiều chức năng quan trọng khác của cơ thể.
Thư giãn và tránh căng thẳng
Căng thẳng có thể kích thích cơ thể tiết ra các hormone như glucagon và cortisol. Những hormone này làm tăng nguy cơ kháng insulin và khiến đường huyết khó kiểm soát hơn.
Sau bữa ăn, người bệnh có thể thư giãn bằng cách hít thở sâu, tập yoga, thiền, viết nhật ký hoặc thực hiện những hoạt động mình yêu thích để giữ tinh thần thoải mái.
Người bệnh tiểu đường nên ăn gì để ổn định đường huyết?
Theo các bác sĩ Bệnh viện Huyết học và truyền máu Trung ương, việc chọn thực phẩm có chỉ số đường huyết (Glycemic Index – GI) thấp có thể giúp ổn định đường huyết, kiểm soát bệnh tốt hơn và làm chậm các nguy cơ biến chứng.
Chỉ số đường huyết (GI) xác định một loại thức ăn khi vào cơ thể sẽ gây tăng đường huyết ít hay nhiều, được chia thành 3 nhóm gồm thực phẩm có GI thấp từ 55 trở xuống, trung bình 56-69 và cao từ 70 trở lên.
Về nhóm tinh bột, người bệnh nên sử dụng các loại gạo xay xát dối, gạo lứt hoặc ngũ cốc nguyên cám, kết hợp hoặc thay thế cho gạo trắng, bún phở, bánh mì trắng nếu muốn giảm chỉ số đường huyết.
Có thể tăng cường đạm thực vật như các loại đậu gồm đậu lăng, đậu xanh, đậu Hà Lan, các sản phẩm từ đậu như sữa đậu nành, đậu phụ và hạt bí đỏ.
Nên lựa chọn các thực phẩm giàu đạm nguồn gốc động vật ít béo như thịt lợn, thịt bò nạc, tôm, cua, cá, thịt gia cầm như gà, vịt bỏ da.
Trong chế biến món ăn, có thể sử dụng dầu thực vật như dầu đậu nành, dầu vừng, dầu oliu, dầu hạnh nhân, dầu óc chó…
Người bệnh cũng nên ăn đa dạng các loại rau củ chứa nhiều chất xơ và vitamin C, có hàm lượng nitrat cao như đậu cô ve, xà lách, súp lơ, su hào, rau dền, cần tây, rau cải, cà chua… với khoảng 400-500 g rau mỗi ngày.
Các loại quả có hàm lượng đường ít, trung bình có thể lựa chọn gồm thanh long, bưởi, ổi, cam, đu đủ, bơ, lê, mận, dâu tây, quả roi…
Nguồn: Sức khỏe đời sống (Link)
Thông tin hữu ích khác:
– Volkswagen Nha Trang
– Kiến thức gia đình
– Xe hơi Volkswagen
– Tri thức đời sống
– Giá xe Volkswagen
– Mua xe Volkswagen

